Đây là nhóm rủi ro bạn kiểm soát được nhiều nhất, và cũng là nhóm mà mức thiệt hại tính trước được chính xác nhất — nên nó đáng được xử lý đầu tiên. Phần lớn công sức chuẩn bị của bạn thực ra là để giảm nhóm này.
Bốn nguyên nhân thường gặp
Chúng khác nhau về khả năng phòng.
Hồ sơ nguồn vốn không đủ hoặc không nhất quán. Đây là nguyên nhân phổ biến nhất và cũng là nguyên nhân phòng được nhiều nhất — chuyên mục đầu của site này dành trọn cho việc đó.
Vấn đề phát hiện trong quá trình thẩm tra liên quan tới lịch sử của người nộp hồ sơ hoặc của người trong gia đình.
Không đáp ứng một điều kiện của chương trình mà bạn hoặc bên tư vấn đã hiểu nhầm.
Và lỗi kỹ thuật: thiếu giấy tờ, sai mẫu, quá hạn nộp bổ sung. Nhóm này hoàn toàn phòng được và nó vẫn xảy ra thường xuyên.
Cách tính mức thiệt hại
Ba bước, dùng bảng chi phí toàn phần của bạn.
Cộng mọi dòng có cột "có hoàn lại không" ghi là không hoàn.
Cộng thêm phần của các dòng ghi hoàn một phần.
Và cộng thời gian: bao lâu bạn đã dành cho việc này, và chi phí cơ hội của khoảng thời gian đó.
Con số cuối là mức thiệt hại tối đa của nhóm rủi ro này, và nó thay đổi theo thời điểm — bị từ chối sớm mất ít hơn bị từ chối muộn. Đây là lý do việc biết mình sẽ chi khoản nào vào lúc nào lại quan trọng tới vậy.
Bốn cách giảm nhóm rủi ro này
Chúng đều làm trước khi nộp, và chúng có hiệu quả rõ rệt.
Thẩm định sơ bộ trước khi chi những khoản lớn. Nhiều chương trình có bước đánh giá sơ bộ, và một luật sư có kinh nghiệm cũng đánh giá được khả năng của hồ sơ bạn trước khi bạn cam kết.
Chuẩn bị hồ sơ nguồn vốn đầy đủ trước khi bắt đầu, theo sáu bước của chuyên mục đầu.
Nêu chủ động mọi điểm có thể bị hỏi, kèm giải trình, thay vì chờ bị phát hiện.
Và sắp xếp thứ tự chi tiêu sao cho các khoản lớn nhất được chi muộn nhất có thể, sau khi đã qua các bước đánh giá sơ bộ. Điều này không phải lúc nào cũng làm được, nhưng khi làm được thì nó cắt giảm mức thiệt hại tối đa rất nhiều.
Một cách nhìn về xác suất
Ba điểm, vì người ta hay hỏi tỷ lệ bị từ chối là bao nhiêu.
Con số trung bình không nói gì về hồ sơ của bạn. Một tỷ lệ chung gộp cả những hồ sơ chuẩn bị rất kỹ lẫn những hồ sơ nộp bừa, nên nó không phải xác suất của bạn.
Xác suất của bạn phụ thuộc chủ yếu vào ba thứ bạn kiểm soát được: chất lượng hồ sơ nguồn vốn, mức độ bạn đáp ứng điều kiện, và việc có điểm nào trong lịch sử cần giải trình hay không.
Nên câu hỏi hữu ích không phải "tỷ lệ bị từ chối là bao nhiêu" mà là "hồ sơ của tôi có điểm yếu nào". Câu sau trả lời được bằng một buổi làm việc với luật sư, và nó cho bạn một danh sách việc làm thay vì một con số để lo.
Nếu hồ sơ bị từ chối
Bốn việc, theo thứ tự.
Hỏi rõ lý do bằng văn bản. Lý do quyết định mọi bước sau.
Hỏi về quyền khiếu nại và thời hạn, vì thời hạn chạy ngay từ khi bạn nhận quyết định.
Rà lại hợp đồng với các bên để xem những khoản nào được hoàn và làm thủ tục hoàn ngay, vì nhiều điều khoản hoàn tiền có thời hạn.
Và trước khi nộp lại ở đâu đó, hỏi luật sư về việc lần từ chối này ảnh hưởng thế nào tới hồ sơ sau. Ở nhiều hệ thống, một lần bị từ chối phải được khai trong các hồ sơ về sau — nên cách xử lý lần này quyết định khả năng của những lần sau.
Vì sao hồ sơ bị từ chối?
Bốn nguyên nhân thường gặp: hồ sơ nguồn vốn không đủ hoặc không nhất quán, vấn đề phát hiện trong thẩm tra, không đáp ứng một điều kiện do hiểu nhầm, và lỗi kỹ thuật như thiếu giấy tờ hay quá hạn bổ sung.
Tính mức thiệt hại thế nào?
Cộng mọi dòng không hoàn lại trong bảng chi phí, cộng phần của các dòng hoàn một phần, và cộng chi phí cơ hội của thời gian đã dành. Con số thay đổi theo thời điểm — bị từ chối sớm mất ít hơn bị từ chối muộn.
Giảm rủi ro này bằng cách nào?
Thẩm định sơ bộ trước khi chi khoản lớn, chuẩn bị hồ sơ nguồn vốn đầy đủ trước khi bắt đầu, nêu chủ động mọi điểm có thể bị hỏi kèm giải trình, và sắp xếp để các khoản lớn nhất được chi muộn nhất có thể.
Nếu bị từ chối thì làm gì?
Hỏi rõ lý do bằng văn bản, hỏi về quyền khiếu nại và thời hạn, rà hợp đồng để làm thủ tục hoàn các khoản được hoàn vì chúng có thời hạn, và hỏi luật sư về việc lần từ chối này ảnh hưởng thế nào tới hồ sơ sau.